Chuyên mục

Bản tin BH - TBH

Báo cáo thường niên

Báo cáo Phát triển bền vững

Xếp hạng tín nhiệm

Cho Thuê Văn Phòng

Thông tin cố phiếu

Tỷ Giá

Tỷ giá   Tỷ giá
  USD   26.00
  EUR   31.00
  GBP   35.00
  HKD   3.00
  JPY   173.11
  CHF   33.00
  AUD   17.00
  CAD   19.00
  SGD   20.00
  THB   850.72

Đô thị hóa thông minh để củng cố quá trình phục hồi “xanh” của Châu Á

07 - 04 -2021

Cộng đồng và doanh nghiệp bị gián đoạn bởi đại dịch, đang phải đáp ứng các tiêu chuẩn mới và thích ứng với những thách thức phát sinh do đô thị hóa, biến đổi khí hậu, công nghệ mới, làm việc từ xa cũng như phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong khi thế giới đang thích nghi với những vấn đề đan xen này thì các nền kinh tế, các ngành đang phải đối mặt với những rủi ro gì và những ảnh hưởng nào đối với ngành bảo hiểm?

Trên toàn cầu có 4,4 tỷ người đô thị và ngày càng tăng

Theo ước tính của Liên hợp quốc, 56,2% dân số thế giới hay 4,4 tỷ người sống ở các khu vực đô thị trong năm 2020, tăng từ 51,7% của thập kỷ trước. Đến năm 2040, tỷ lệ này sẽ tăng lên 64,5%. Hơn một nửa trong số 1,6 tỷ người đô thị tăng thêm cho đến năm 2040 sẽ là ở châu Á. Các thành phố đã trở thành biểu tượng của sự phát triển, đổi mới và chất lượng cuộc sống tốt hơn. Đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế đang hỗ trợ lẫn nhau. Các thành phố có lợi thế kinh tế nhờ quy mô và giúp cắt giảm chi phí giao dịch. Các cơ hội tốt hơn về giáo dục, việc làm và y tế lần lượt thu hút nhiều người di cư từ khu vực nông thôn đến các thành phố. Chẳng hạn như những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra vai trò tích cực của đô thị hóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN.

Tốc độ đô thị hóa từ năm 1970 đến năm 2040

Bình luận về đô thị hóa, Ngân hàng Thế giới lưu ý rằng “không có quốc gia nào đạt được mức thu nhập trung bình mà không có quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Không quốc gia nào có thu nhập cao mà không có các thành phố sôi động. Việc đổ xô đến các thành phố ở các nước đang phát triển có vẻ hỗn loạn, nhưng là cần thiết”. Đây không phải là sự thừa nhận ngầm về các khu ổ chuột, các vấn đề về tội phạm và bụi bẩn tại đô thị không thể tránh khỏi mà là lời kêu gọi các nhà hoạch định chính sách làm tốt hơn trong việc thúc đẩy sự phát triển bao trùm và bình đẳng.

Xét về vai trò của đô thị hóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và giảm nghèo, không có gì ngạc nhiên khi nhiều thị trường châu Á mới nổi trong những năm gần đây đã chú trọng vào đô thị hóa như một trụ cột chính trong kế hoạch phát triển quốc gia của mình.

Đô thị hóa và đầu tư cơ sở hạ tầng là hai mặt của một đồng tiền. Thật vậy, các thành phố đang phát triển ở châu Á có thể sẽ chiếm phần lớn nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng của khu vực trong những thập kỷ tới. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, châu Á đang phát triển cần 1,7 tỷ USD đầu tư cơ sở hạ tầng mỗi năm cho đến năm 2030. Mặc dù việc đảm bảo đủ nguồn tài chính để thực hiện khoản đầu tư khổng lồ này là một thách thức lớn, nhưng điều này cũng chỉ ra những cơ hội đáng kể cho ngành bảo hiểm nảy sinh do xây dựng bùng nổ. Cần lưu ý rằng nhu cầu chi tiêu cho cơ sở hạ tầng bao gồm cả nhu cầu dành cho việc giải quyết nghèo đói và ứng phó với biến đổi khí hậu.

COVID-19 và tác động của nó đối với quá trình đô thị hóa

COVID-19 bùng phát đã khiến hầu hết các thị trường châu Á rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế sâu sắc. Công bằng mà nói, chúng ta đã đến điểm uốn và nhiều nền kinh tế châu Á đang ở tư thế sẵn sàng phục hồi vào năm 2021. Trong khi các chính phủ tập trung vào việc duy trì việc làm và ngăn chặn tình trạng phá sản trong những tháng qua thì nhu cầu sắp tới là tạo ra tăng trưởng. Với lý do chính đáng, các chính phủ tìm kiếm các công cụ chính sách của mình thường hay chọn đô thị hóa và đầu tư cơ sở hạ tầng để kích thích tăng trưởng. Xét cho cùng, đầu tư cơ sở hạ tầng có tác động mạnh mẽ cấp số nhân. Đầu tư cơ sở hạ tầng tăng khoảng 10% có thể làm sản lượng tăng 0,7-1% trong dài hạn. So với các giải pháp thay thế khác, như cắt giảm thuế hoặc chi trả phúc lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng có lợi hơn là dùng tiền.

Tuy nhiên COVID-19 vẫn làm dấy lên mối quan ngại về rủi ro đại dịch trong môi trường đô thị, vì ban đầu nhiều thành phố lớn là những điểm nóng về COVID-19. Thời kỳ đầu của đại dịch, hơn 95% tổng số ca bệnh là ở khu vực đô thị, ảnh hưởng đến hơn 2.550 thành phố. Các khu vực chật hẹp được cho là sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây truyền vi rút trong khi thách thức việc thực thi các biện pháp ngăn chặn và giãn cách xã hội. Tuy nhiên, đây không phải là lý do để hạn chế đô thị hóa. Không phải tất cả các thành phố lớn đều bị ảnh hưởng như nhau, với nhiều thành phố châu Á nổi tiếng có mật độ dân số cao thực hiện tốt việc ngăn chặn sự lây lan của vi rút hơn các thành phố phương Tây. Đồng thời, hiện có nhiều dấu hiệu về tình trạng dễ bị tổn thương ở khu vực nông thôn, cả về khả năng lây nhiễm nhanh các đợt dịch tiếp theo và thiếu sự sẵn sàng về y tế.

Đô thị hóa 2.0

Cần theo đuổi quá trình đô thị hóa theo hướng giảm thiểu rủi ro đại dịch. Hơn nữa, những thay đổi về cách thức làm việc và sinh sống của người dân sẽ tồn tại lâu hơn đại dịch, và những thay đổi này cần được xem xét trong quy hoạch thành phố.

Sự phát triển các thành phố thuộc mọi quy mô:

Không có gì tượng trưng cho đô thị hóa hơn các siêu đô thị – những thành phố với hơn 10 triệu dân. Theo Liên hiệp quốc, hiện có 33 siêu đô thị, với con số dự kiến sẽ tăng lên 43 vào năm 2030. Bảy trong số mười thành phố lớn nhất vào năm 2018 là ở châu Á: thành phố lớn nhất là Tokyo nhưng dự kiến Delhi sẽ vượt Tokyo vào năm 2030. Trong khi số lượng siêu đô thị sẽ tiếp tục tăng lên, một làn sóng đô thị hóa mới ở châu Á được cho là sẽ tập trung nhiều hơn vào sự phát triển tập hợp đô thị, đặc biệt là ở các thành phố quy mô vừa và nhỏ.

Các thành phố tương lai chống chọi với khí hậu:

Các biện pháp tạo điều kiện thích ứng với khí hậu, cắt giảm lượng khí thải carbon và tăng khả năng bền vững trước các cú sốc khí hậu đã được đưa vào quy hoạch đô thị hóa trước đại dịch. Sự bùng phát COVID-19 đã chứng minh khả năng làm giảm đáng kể lượng khí thải carbon ở đô thị, chẳng hạn như qua việc đi lại giảm và thu xếp cách làm việc thay thế. Do đó, có một động lực mới để xem xét những thay đổi lâu dài đối với cách vận hành của các thành phố nhằm làm cắt giảm tổng lượng khí phát thải lâu dài.

Phát triển bao trùm:

Các thành phố không nhất thiết phải cho mình cơ hội bình đẳng. Theo UNDP, bất bình đẳng gia tăng đang góp phần làm suy giảm “sự phát triển con người toàn cầu”. Do đó, đô thị hóa ngày càng tập trung vào sự phát triển bao trùm nhằm thu hẹp bất bình đẳng, chẳng hạn như thông qua tài chính/bảo hiểm bao trùm, kết hợp với các nguyên tắc đa dạng và hòa nhập, và giải quyết vấn đề “quyền đối với thành phố”. Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nặng nề nhất đến người nghèo và có thể sẽ làm tăng thêm bất bình đẳng ở các thành phố. Ước tính khoảng 1 tỷ người sống ở các thành phố đông dân cư và chật chội là những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch.

Cơ sở hạ tầng y tế:

Ở cả các thị trường mới nổi và thị trường tiên tiến, COVID-19 đã làm quá tải cơ sở hạ tầng y tế. Hiện có một nhận thức rõ ràng là cơ sở hạ tầng y tế, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi, cần được cải thiện đáng kể. Việc cung cấp đầy đủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng rất quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo và giảm bất bình đẳng. Có thể mở rộng dễ dàng xu hướng này để bao gồm cả việc tự cung cấp thuốc men cũng như thiết bị chăm sóc sức khỏe. Ngược lại với điều này là nhiều người tiêu dùng dường như sẵn sàng chấp nhận dịch vụ y tế từ xa (trong chẩn đoán, theo dõi và chia sẻ thông tin), do đó, khiến cho việc tiếp cận các cơ sở y tế bớt khẩn thiết hơn.

Tương lai việc làm (và giáo dục):

Tương lai việc làm (và giáo dục) đang thay đổi, vì một số hình thức làm việc di động (và học tập) sẽ duy trì lâu dài. Ngay cả trước đại dịch, làm việc từ xa gia tăng, với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và người máy, đang thách thức tương lai việc làm. COVID-19 đã làm trầm trọng thêm xu hướng này khi buộc hàng triệu nhân viên văn phòng phải làm việc từ xa. Dự kiến, nhiều người sẽ không trở lại văn phòng của mình ngay cả sau khi đại dịch đã lắng xuống. Điều này cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của nền kinh tế việc làm tự do (gig economy), ở đó việc làm chính thức ngày càng được thay thế bằng việc làm tạm thời và linh hoạt.

Đa dạng hóa và khả năng bền vững:

Đại dịch đã ảnh hưởng nặng nề nhất đến một số ngành kinh tế bao gồm ngành bán lẻ, du lịch và khách sạn. Những phát hiện thêm cho thấy sự thiếu hụt cơ cấu kinh tế đa dạng là một nguyên nhân dẫn đến tính dễ bị tổn thương của các thành phố. Điều này cho thấy nhu cầu của các thành phố phải đa dạng hơn về mặt cơ cấu kinh tế để có thể đối phó tốt hơn với các cú sốc bên ngoài trong tương lai. Một ví dụ khác là những hạn chế về giao thông làm gián đoạn nguồn cung thực phẩm ở các thành phố. Do đó, những ý tưởng mới như nông nghiệp đô thị đã được đề xuất để cải thiện chuỗi cung ứng cục bộ và khả năng tự cung tự cấp của thành phố.

Những ảnh hưởng đối với ngành bảo hiểm

Ngành bảo hiểm nên tự coi mình là đối tác chính trong việc bảo vệ tương lai của các thành phố. Phần lớn nhu cầu bảo hiểm tăng trưởng dự kiến trong thập kỷ tới sẽ bắt nguồn từ các trung tâm đô thị mới, đặc biệt là các trung tâm đô thị ở Châu Á mới nổi. Đồng thời, việc tập trung ngày càng nhiều tài sản và rủi ro ở khu vực thành thị vẫn sẽ là một trong những thách thức chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trong những năm tới. Do đó, điều quan trọng là các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải trang bị cho mình kiến thức về quy hoạch và phát triển đô thị, cũng như công tác quản lý rủi ro thành phố, để hỗ trợ làn sóng đô thị hóa tiếp theo ở châu Á. Bảng dưới đây cho thấy bức tranh tổng thể về các xu hướng đô thị hóa sau COVID-19 và những ảnh hưởng đối với ngành bảo hiểm.

Đô thị hóa và những ảnh hưởng đối với ngành bảo hiểm

Xu hướngCơ hộiThách thức
Sự phát triển các thành phố thuộc mọi quy mô Nhu cầu bảo hiểm ngày càng tăng ở các thành phố ngoài các siêu đô thị cấp mộtÍt rủi ro tích tụ hơn vì danh mục rủi ro đa dạng hóa bao gồm nhiều thành phố hơn (và nhỏ hơn)Cơ hội xây dựng mối quan hệ với giám đốc quản lý rủi ro thành phố để thúc đẩy công tác quản lý rủi ro toàn diện bao gồm cả các giải pháp bảo hiểm cấp thành phốNhu cầu bảo hiểm phân tán cùng với các mô hình đô thị hóa khác nhauCần xem xét các rủi ro cụ thể tại địa phương/địa điểm (ví dụ như mô hình hóa nguy cơ rủi ro của các thành phố vừa và nhỏ)
Các thành phố tương lai chống chọi với khí hậu:Nhu cầu bảo hiểm mới phát sinh từ cơ sở hạ tầng bền vững và thích ứng với khí hậu, các nguồn năng lượng mới và các phương thức vận tảiCác biện pháp thích ứng với khí hậu có thể làm giảm tổn thất được bảo hiểm tiềm tàng do các sự kiện khí hậu gây raCơ hội đầu tư liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị (ESG) để quản lý tài sản bảo hiểmCác thành phố, đặc biệt có quy mô vừa và nhỏ, có thể bị hạn chế do ngân sách eo hẹp từ nguồn đầu tư bền vững và thích ứng với khí hậuChương trình quản lý rủi ro tổng thể thường cần có sự hỗ trợ và tham gia của nhiều đối tác liên quan 
Phát triển bao trùmGiảm bất đồng xã hội trong khi bảo đảm phần lớn dân số sẽ được hưởng thành quả của tiến bộ kinh tếThúc đẩy sự phát triển của tầng lớp trung lưu (và sự giàu có mới nổi)Giảm khoảng trống bảo vệ và sức ép lên các chương trình phúc lợi công cộngCần có sự hỗ trợ mạnh mẽ về chính sách của các cơ quan chính phủ có liên quanCác doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cần phải phát triển các mô hình kinh doanh khả thi và có khả năng mở rộng cho phân khúc thu nhập thấp
Cơ sở hạ tầng y tếXây dựng thêm cơ sở hạ tầng y tế sẽ thúc đẩy nhu cầu bảo hiểmCơ sở hạ tầng y tế tốt hơn sẽ hỗ trợ sự phát triển của bảo hiểm y tế và sức khỏe (loại bảo hiểm hoàn trả)Có thể cảm nhận được sự chia sẻ của những công dân khỏe mạnh trong nhiều loại hình bảo hiểm khác (ví dụ như các khiếu nại đòi bồi thường của nhân viên giảm)Cần phải đầu tư đáng kể và không được bảo đảm nguồn vốn, đặc biệt là nếu cần tái ưu tiên từ các cơ sở hạ tầng khácY tế từ xa phát triển có thể ảnh hưởng đến cách thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong tương lai
Tương lai việc làm (và giáo dục)Sự kết hợp giữa làm việc ở  văn phòng và tại nhà sẽ thay đổi, dẫn đến nhu cầu về không gian văn phòng và phương tiện đi lại thay đổi, do đó tác động đến nhu cầu bảo hiểm liên quanCơ hội để bảo hiểm cho nền kinh tế làm việc tự do/chia sẻCần đổi mới sản phẩm và cần có sự hỗ trợ/ minh bạch về mặt quy địnhBảo hiểm cần phải thích ứng với tình huống năng động, ví dụ như khi định nghĩa về công việc (và việc làm) liên tục thay đổi
Đa dạng hóa và khả năng bền vữngDanh mục rủi ro được bảo hiểm đa dạng hơn bao gồm các phân khúc kinh tế khác nhauĐa dạng hóa theo hướng dịch vụ và nền kinh tế dựa trên tri thức sẽ tạo ra nhu cầu bảo hiểm chuyên biệt về an ninh không gian mạng, sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình khác.Cần hiểu rõ hơn về cơ cấu kinh tế và rủi ro hệ thống (ví dụ như về sự tương quan rủi ro)

Danh sách trong bảng trên chưa đầy đủ. Tuy nhiên, điểm mấu chốt chính vẫn là sự đan xen giữa tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa sẽ tiếp tục mang lại cơ hội kinh doanh to lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm ở châu Á mới nổi. Các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cần phải trang bị cho mình những kiến thức phù hợp để tham gia vào cơ hội này, chẳng hạn như về bảo hiểm xanh[1] và bao trùm, năng lượng tái tạo, cơ sở hạ tầng y tế và tài sản vô hình.

                                                                   (Theo PeakRe 09/3/2021)


[1] Bảo hiểm xanh (còn thường được gọi là bảo hiểm thân thiện với môi trường) có thể được định nghĩa là loại hình bảo hiểm không chỉ bảo hiểm cho con người trong trường hợp bị thương hoặc thiệt hại mà còn góp phần bảo vệ môi trường của chúng ta.

Liên kết Website

VINARE's Assistant