Chuyên mục

Bản tin BH - TBH

Báo cáo thường niên

Báo cáo Phát triển bền vững

Xếp hạng tín nhiệm

Cho Thuê Văn Phòng

Thông tin cố phiếu

Tỷ Giá

Tỷ giá   Tỷ giá
  USD   26.00
  EUR   31.00
  GBP   35.00
  HKD   3.00
  JPY   173.11
  CHF   33.00
  AUD   17.00
  CAD   19.00
  SGD   20.00
  THB   850.72

Đầu tư từ nguồn vốn nhàn rỗi của ngành bảo hiểm – Nguồn lực dài hạn cho kinh tế, song còn vướng pháp lý

15 - 09 -2025

Trong suốt thời gian qua, ngành bảo hiểm đã khẳng định vai trò là một trong những kênh dẫn vốn hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tài chính. Theo thống kê từ Cục Quản lý, Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đầu tư trở lại nền kinh tế tăng trưởng bình quân khoảng 20%/năm trong giai đoạn 2015-2025, lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm.

Năm 2024, vốn từ các DNBH đầu tư trở lại nền kinh tế đạt khoảng 850.075 tỷ đồng. Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, dự kiến trong năm 2025 tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 895.954 tỷ đồng (tăng 5,4% so với năm 2024), trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 82.654 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước đạt 813.300 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022-2025 đạt khoảng 10,28%. Những số liệu này không chỉ phản ánh sự tăng trưởng về quy mô tài chính mà còn là minh chứng cho mối quan hệ gắn bó giữa ngành bảo hiểm và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Cụ thể, nguồn vốn từ các doanh nghiệp bảo hiểm đã và đang mang lại ba đóng góp nổi bật sau đây.

  1. Thúc đẩy các dự án trọng điểm: Nguồn vốn đầu tư từ DNBH chủ yếu tập trung vào các kênh như tiền gửi, trái phiếu và các công cụ tài chính trung – dài hạn, góp phần ổn định thị trường tài chính và cung cấp dòng tiền cho các dự án hạ tầng, năng lượng, công nghệ.
  2. Hỗ trợ phát triển sản xuất và việc làm: Thông qua việc tài trợ vốn cho doanh nghiệp, ngành bảo hiểm gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng sản xuất, tạo thêm việc làm và cải thiện thu nhập cho người lao động.
  3. Ổn định mặt bằng lãi suất và thị trường vốn: Người dân được hưởng lợi thông qua sự ổn định của hệ thống tài chính, với mức lãi suất tiết kiệm và tín dụng hợp lý hơn nhờ dòng vốn dài hạn từ bảo hiểm.

Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn đã dần tiếp cận với thông lệ, chuẩn mực quốc tế, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, góp phần thực hiện thành công các cam kết hội nhập trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và thị trường tài chính. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý về kinh doanh bảo hiểm trong thời gian qua đã từng bước góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tài chính của Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tế cho thấy hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đang gặp một số rào cản, đáng chú ý là quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 99 Luật KDBH 2022:

“Doanh nghiệp bảo hiểm không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ của chính doanh nghiệp phát hành…”.

Quy định này ban hành nhằm đảm bảo an toàn vốn của DNBH, ngăn dòng vốn bảo hiểm bị sử dụng để xoay vòng nợ không tạo giá trị gia tăng, đồng thời đảm bảo quyền lợi người tham gia bảo hiểm và góp phần ổn định hệ thống tài chính. Tuy vậy, khi áp dụng vào thực tiễn, quy định lại bộc lộ một số hạn chế:

  • Đánh giá rủi ro trái phiếu cần toàn diện, không chỉ dựa vào mục đích phát hành

Trái phiếu doanh nghiệp được thẩm định dựa trên nhiều tiêu chí: sức khỏe tài chính của tổ chức phát hành, giá trị và tính pháp lý của tài sản bảo đảm, cùng các điều khoản bảo vệ nhà đầu tư. Mục đích phát hành chỉ là một yếu tố trong quá trình đánh giá. Với năng lực phân tích và kinh nghiệm đầu tư, các doanh nghiệp bảo hiểm hoàn toàn có thể kiểm soát và quản trị rủi ro khi đầu tư.

  • Cơ cấu nợ – nhu cầu tất yếu của các dự án dài hạn

Ở Việt Nam, phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nợ là hoạt động phổ biến, đặc biệt trong các ngành có chu kỳ đầu tư dài như bất động sản, năng lượng, hạ tầng giao thông. Hầu hết dự án quy mô lớn cần 7-10 năm để hoàn thành, trong khi nhà đầu tư cá nhân thường chỉ chấp nhận kỳ hạn 3-5 năm. Việc cơ cấu lại nguồn vốn ngắn hạn thành vốn dài hạn giúp doanh nghiệp duy trì tiến độ và bảo đảm tính khả thi của dự án.

  • Tác động tới chiến lược phát triển hạ tầng quốc gia

Chính phủ đang ưu tiên nhiều dự án hạ tầng then chốt như đường cao tốc Bắc – Nam, đường sắt tốc độ cao, cảng biển, hạ tầng logistics… với thời gian đầu tư kéo dài 15-30 năm. Doanh nghiệp bảo hiểm – vốn là các định chế nắm giữ nguồn vốn dài hạn ổn định nhất – lại bị giới hạn đầu tư vào trái phiếu cơ cấu nợ, dẫn tới nguy cơ thiếu hụt nguồn lực cho các dự án chiến lược.

Ngoài ra, không chỉ dừng lại ở quy định về trái phiếu cơ cấu nợ, Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 còn đặt ra một rào cản khác trong hoạt động đầu tư, cụ thể là quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 99 về việc đầu tư trở lại cho cổ đông và người có liên quan.

“Không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông, thành viên góp vốn hoặc người có liên quan với cổ đông, thành viên góp vốn theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trừ tiền gửi tại các cổ đông, thành viên là tổ chức tín dụng…”.

  • Khó khăn trong việc xác định danh sách cổ đông tại thời điểm đầu tư:      

Đối với DNBH là công ty chưa đại chúng: Doanh nghiệp tự quản lý danh sách cổ đông theo quy định tại Điều 122 Luật Doanh nghiệp 2020 nên có thể chủ động kiểm soát được việc đầu tư trở lại cho cổ đông.

Đối với DNBH là công ty đại chúng: theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 thì bất kỳ cá nhân tổ chức nào sở hữu tối thiểu 1 cổ phần của doanh nghiệp đều là cổ đông của doanh nghiệp đó. Danh sách cổ đông của doanh nghiệp được Tổng công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) quản lý tập trung và luôn biến động hàng ngày. Doanh nghiệp chỉ có thể nắm được danh sách cổ đông tại một thời điểm đã chốt trong quá khứ thông qua nghiệp vụ của VSDC, chứ không thể biết chính xác cổ đông hiện tại. Như vậy, khi thực hiện các khoản đầu tư tài chính trong phạm vi được phép, doanh nghiệp bảo hiểm là công ty đại chúng có thể vô tình đầu tư trở lại cho chính cổ đông của mình mà không hề hay biết.

  • Khó khăn trong việc xác định Người có liên quan của cổ đông tại thời điểm đầu tư:

Đối với DNBH là công ty chưa đại chúng: Người có liên quan của cổ đông được xác định theo Khoản 23 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020. Tuy nhiên, có thể có rủi ro đầu tư trở lại Người có liên quan của cổ đông do việc khai báo các thông tin về Người có liên quan của cổ đông có thể không được cổ đông khai báo, cập nhật đầy đủ và chính xác.

Đối với DNBH là công ty đại chúng: Người có liên quan của cổ đông được xác định căn cứ theo quy định tại Khoản 23 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 và Khoản 46 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019. Việc xác định mối quan hệ người có liên quan theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ áp dụng khi một trong hai bên trong quan hệ phải là doanh nghiệp, còn theo Luật Chứng khoán 2019 áp dụng giữa bất kỳ tổ chức, cá nhân nào mà không bắt buộc một bên phải là doanh nghiệp. Hiện nay chưa có quy định pháp luật yêu cầu toàn bộ cổ đông phải cung cấp thông tin người có liên quan cho doanh nghiệp do đó dẫn tới việc có thể vô tình đầu tư vào người có liên quan của cổ đông.

Một số ý kiến kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý

Những vướng mắc nêu trên cho thấy, mặc dù Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 đã đặt nền tảng quan trọng cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ nhiều điểm cần được điều chỉnh để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với đặc thù của ngành. Từ thực tế đó, các chuyên gia và doanh nghiệp đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý. Cụ thể, cần sớm điều chỉnh và bổ sung các quy định liên quan đến:

  1. Hạn chế đầu tư trái phiếu “đảo nợ”: Nới lỏng quy định để doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) được lựa chọn đầu tư vào trái phiếu cơ cấu nợ trong trường hợp doanh nghiệp phát hành có xếp hạng tín nhiệm cao, phương án sử dụng vốn minh bạch; đồng thời áp dụng cơ chế quản trị rủi ro chặt chẽ và giám sát việc thực hiện các cam kết phát hành.
  2. Giới hạn đầu tư trở lại cổ đông và người có liên quan: Quy định theo hướng quản lý đối với cổ đông lớn của DNBH, tham chiếu các điều 66 và 74 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022, nhằm bảo đảm tính rõ ràng, khả thi và phù hợp với đặc thù hoạt động đầu tư của ngành, đồng thời mở rộng cơ hội lựa chọn đầu tư.

Việc điều chỉnh này không chỉ giúp DNBH yên tâm đầu tư đúng luật, mà còn tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu rủi ro, tạo môi trường pháp lý ổn định, tiệm cận thông lệ quốc tế đồng thời góp phần ổn định thị trường vốn và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Liên kết Website

VINARE's Assistant