Chuyên mục

Bản tin BH - TBH

Báo cáo thường niên

Báo cáo Phát triển bền vững

Xếp hạng tín nhiệm

Cho Thuê Văn Phòng

Thông tin cố phiếu

Tỷ Giá

Tỷ giá   Tỷ giá

Warning: foreach() argument must be of type array|object, null given in /home2/vinarec1/public_html/wp-content/themes/vinare/single.php on line 339

Triển vọng lợi nhuận đầu tư của các Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ năm 2023

29 - 03 -2023

Lợi nhuận các Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (bao gồm cả tái bảo hiểm) phần lớn đến từ lợi nhuận đầu tư. Thống kê trong 7 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết thì lợi nhuận đầu tư chiếm trên 70%, có doanh nghiệp đạt mức trên 95%. Hai danh mục có tỷ trọng lớn nhất trong danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là fixed income và đầu tư chứng khoán (bao gồm cả góp vốn), chiếm khoảng trên 70% lợi nhuận đầu tư.  Việc đánh giá, dự báo môi trường đầu tư đối với hai danh mục nêu trên có thể cho thấy bức tranh lợi nhuận đầu tư cũng như lợi nhuận của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ năm 2023. 

            Nhìn lại năm 2022, tăng trưởng GDP toàn cầu đạt 3,2%, trong bối cảnh thương mại hàng hóa toàn cầu suy giảm từ nửa cuối năm 2022.Lạm phát đạt đỉnh vào cuối năm 2022 với mức 8,8% và bắt đầu có xu hướng hạ nhiệt từ đầu năm 2023. Để ngăn lạm phát tăng cao, các ngân hàng trung ương đã nhanh chóng nâng lãi suất chính sách danh nghĩa. IMF dự báo lạm phát chung toàn cầu giảm từ 8,8% năm 2022 xuống còn 6,5% năm 2023 ở hầu hết các nền kinh tế nhưng rõ rệt nhất ở các nền kinh tế phát triển. Bên cạnh đó qũy tiền tệ quốc tế (IMF) cũng dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2023 đạt 2,7%.

            Còn tại Việt Nam, Năm 2022 tăng trưởng GDP đạt 8,02% và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 do sự phục hồi tích cực của nền kinh tế sau khi đại dịch Covid 19 được kiểm soát, các biện pháp kiểm soát dịch được dỡ bỏ. Các động lực của nền kinh tế trong năm 2022 là xuất khẩu, đầu tư công, FDI và phần nào là sự phục hồi của tiêu dùng trong nước. Năm 2022, Việt Nam ghi nhận xuất siêu lớn ở mức 11,2 tỷ USD, tăng 3,3 lần so với năm 2021. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2022 tăng trưởng 11,2% so với năm trước. Đóng vai trò dẫn dắt là vốn đầu tư khu vực nhà nước với mức tăng 14,6% do hoạt động đầu tư công được đẩy mạnh. Chỉ số CPI có xu hướng tăng trong năm 2022, đặc biệt kể từ giữa Quý III/2022.

            Tại thời điểm cuối năm 2022, mặt bằng lãi suất các kỳ hạn 6-12 tháng tại các Ngân hàng Thương mại lớn đã tăng khoảng 250-300 bps so với thời điểm cuối năm 2021. Nhìn chung, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng dao động trong khoảng 8%-9% đối với các Ngân hàng Thương mại lớn (không tính NHTM có vốn nhà nước), 9%-10% đối với các Ngân hàng Thương mại nhỏ-trung bình. Bên cạnh đó, ttrong năm 2022, thị trường cổ phiếu Việt Nam chịu rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ phía thị trường cổ phiếu quốc tế lẫn các sự kiện đặc thù trong nước. So với năm 2021, một phần đáng kể dòng tiền đã rút khỏi thị trường dẫn tới thanh khoản trong nửa cuối năm 2022 suy giảm khá mạnh so với giai đoạn từ đầu năm 2021 đến Quý I/2022.

 Triển vọng kinh tế 2023 đối với danh mục đầu tư các doanh nghiệp bảo hiểm  

            Sau nhiều biến động mạnh tình hình kinh tế và thị trường vốn Việt Nam đã có dấu hiệu cải thiện trong tháng 12/2022 và 2 tháng đầu năm 2023. Điều đó được thể hiện qua sự dần ổn định trên thị trường liên ngân hàng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, triển vọng của nền kinh tế Việt Nam còn phải đối diện với nhiều khó khăn và bất định trong năm 2023 đối với tăng trưởng và ổn định kinh tế.

            Thách thức lớn nhất là tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ giảm tốc đáng kể trong khi rủi ro suy thoái ở nhiều nền kinh tế lớn đang tăng lên. Ảnh hưởng tiêu cực này có thể kéo dài sang năm 2023. Một rủi ro lớn khác là thị trường bất động sản vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong điều kiện lãi suất cao và hạn chế về nguồn vốn bên cạnh các trở ngại về pháp lý dự án mặc dù Chính phủ gần đây đã có nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho ngành này. Thị trường bất động sản ảm đạm sẽ gây ra sự trì trệ trong ngành xây dựng và các ngành khác có liên quan.

            Rủi ro lạm phát trong năm 2023 cũng là một thách thức lớn khi giá cả có thể tăng khi nhu cầu tiêu dùng từ Trung Quốc tăng sau khi mở cửa. Đồng thời giá cả một số loại hàng hóa, dịch vụ do Chính phủ kiểm soát như điện, giáo dục, xăng dầu, … có nhiều khả năng sẽ được điều chỉnh tăng và lương cơ bản cũng đã được điều chỉnh tăng. Thực tế là Chính phủ đã nới lỏng mục tiêu lạm phát năm 2023 lên 4,5% để tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

            Về thị trường tiền tệ, mặc dù lãi suất huy động có thể đã đạt đỉnh sau khi khủng hoảng thanh khoản đã hạ nhiệt, các doanh nghiệp sẽ rất khó khăn khi một lượng lớn trái phiếu doanh nghiệp sẽ đáo hạn trong năm 2023 (ước tính dựa trên dữ liệu của HNX là  khoảng 250 nghìn tỷ đồng) và cách thức ngân hàng nhà nước cấp hạn mức tín dụng và quản lý cung tiền (và do đó tác động đến tiền gửi ngân hàng và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi) là các vấn đề đáng lưu tâm trong năm. Lãi suất Trái phiếu chính phủ có thể vận động quanh mặt bằng quý IV/2022 và có xu hướng giảm dần, nhưng mức độ giảm vừa phải gắn với biến động của tăng trưởng tín dụng, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, nguồn cung ngoại tệ tại thị trường Việt Nam…Với dự báo biến động của thị trường tiền tệ, trái phiếu như trên, trường hợp không có những biến động lớn, dự báo kết quả đầu tư mảng fixed income của các doanh nghiệp bảo hiểm có thể có tăng trưởng 2 con số.

            Đối với thị trường chứng khoán, điều kiện vĩ mô đầy thách thức với lãi suất cao và nhu cầu suy yếu sẽ tạo ra nhiều áp lực lớn lên triển vọng tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp trong năm tới và điều này có thể tác động tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư. Hai ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chỉ số VNI là Tài chính và Bất động sản với tổng tỷ trọng là 57,5% được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn trong năm 2023. Đối với ngân hàng trong nhóm ngành Tài chính, chi phí vốn được dự báo sẽ tăng và gây áp lực lên NIM trong khi nợ xấu có nhiều khả năng sẽ tăng. Đối với các công ty bất động sản, triển vọng là rất ảm đạm vì lãi suất cao sẽ không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến tiến độ bán hàng mà còn làm gia tăng chi phí lãi vay và từ đó làm giảm khả năng giảm nợ của các doanh nghiệp.

            Mặc dù vậy, mức giảm mạnh của thị trường trong năm 2022, ở một mức độ nhất định, đã phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư về sự suy yếu của nền kinh tế và thu nhập doanh nghiệp trong năm 2023. Nhìn từ khía cạnh chu kỳ kinh tế, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ khả quan hơn trong năm 2024 khi điều kiện vĩ mô được cải thiện. Thị trường chứng khoán năm 2023 được dự báo sẽ phản ánh kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp khả quan này. Trong khi đó, định giá trên thị trường chứng khoán hiện nay là rất hấp dẫn. Chỉ số P/E dự phóng 2023 của VNIndex là 10,0 lần, nằm trong các mức thấp nhất trong 15 năm qua. Do đó việc lựa chọn đầu tư vào các doanh nghiệp có khả năng trụ vững và có thể phát triển mạnh mẽ hơn sau thời kỳ khó khăn với mức định giá được đánh giá và phân tích kỹ lưỡng sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho các nhà đầu tư trong dài hạn. Có thể VNindex chưa có tăng trưởng thuận lợi, nhưng việc phục hồi từ vùng đáy cũng có thể giúp cải thiện kết quả kinh doanh của nhiều danh mục đầu tư chứng khoán dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm.

            Như vậy năm 2023 dự báo là một năm rất khó khăn với kinh tế Việt Nam. Những diễn biến của thị trường tiền tệ và chứng khoán sẽ phức tạp hơn, chịu nhiều yếu tố bất định, trái chiều tác động. Sáu tháng đầu năm 2023 sẽ là thời điểm khó khăn của nền kinh tế. Nếu cân bằng tốt giữa việc quyết liệt đẩy mạnh đầu tư công và các chính sách hỗ trợ đầu tư tư nhân với việc bảo đảm ổn định tỷ giá và chống lạm phát thì mục tiêu tăng trưởng GDP cuả Chính phủ hoàn toàn có thể thực hiện được. Triển vọng đầu tư và kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ năm 2023 dự báo có thể tăng trưởng tốt hơn năm 2022 do được hưởng mặt bằng lãi suất cao từ đầu năm và sự phục hồi của thị trường chứng khoan có thể diễn ra vào cuối năm 2023.

Liên kết Website

VINARE's Assistant