Với mức độ khó lường và nghiêm trọng ngày càng tăng của các hiện tượng thời tiết bất thường, sản xuất nông nghiệp trên toàn thế giới đang đối mặt với mức độ rủi ro rất cao. Các giải pháp cũ đã trở nên bất khả thi còn các giải pháp hiện tại lại không mang lại sự bảo vệ đầy đủ. VINARE xin giới thiệu bài trao đổi của ông Deng Yu, người đứng đầu bộ phận tái bảo hiểm nông nghiệp của Tập đoàn bảo hiểm Canopius với Tạp chí Bảo hiểm châu Á về cách ngành bảo hiểm/tái bảo hiểm có thể thúc đẩy bảo hiểm nông nghiệp như thế nào.

Biến đổi khí hậu gia tăng nhanh đã có cả tác động tích cực và tác động tiêu cực đến bảo hiểm nông nghiệp. Một mặt, biến đổi khí hậu thúc đẩy việc chấp nhận mua bảo hiểm khi mọi người nhận ra những tác động bất lợi đi kèm với tần suất và mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng của các sự kiện liên quan đến thời tiết. Thế nhưng, bên cạnh đó, biến đổi khí hậu có thể làm suy yếu khả năng tồn tại và tính bền vững về tài chính của các công ty bảo hiểm/tái bảo hiểm cung cấp các sản phẩm và dịch vụ này.
“Ví dụ, một số chính phủ đã thiết lập mối quan hệ đối tác với khu vực bảo hiểm tư nhân bằng cách cung cấp các khoản hỗ trợ phí bảo hiểm nhằm tăng cường khả năng chi trả và đánh giá mức độ đầy đủ trong phương pháp tính phí của bảo hiểm nông nghiệp”, ông Deng Yu cho biết. “Tuy nhiên, những tổn thất lớn do điều kiện thời tiết khắc nghiệt thường xuyên hơn vẫn có thể khiến công ty bảo hiểm/tái bảo hiểm không thể tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm này.”
Đối phó với thời tiết khó lường
Biến đổi khí hậu đã khiến các hiện tượng thời tiết trở nên cực đoan và khó lường hơn. Mặc dù các công ty bảo hiểm đã cố gắng hạn chế hầu hết các biến động thông qua việc mô hình hóa và cải tiến các công cụ phát hiện, nhưng thiên nhiên vẫn đang thử thách các hệ thống hiện hữu.
“Rút cục, những rủi ro và thách thức phải đối mặt đều bắt nguồn từ sự biến động và biến đổi của các số liệu quan trọng như nhiệt độ và lượng mưa cũng như cách chúng ảnh hưởng đến kết quả như năng suất cây trồng”, ông Deng cho biết.
Ví dụ, nếu một loại cây trồng cụ thể nhận được lượng mưa bốn tháng chỉ trong một vài ngày thì đó sẽ là thảm họa vì sẽ có một khoảng thời gian hạn hán kéo dài hay lượng mưa cực lớn có thể dẫn đến lũ quét cuốn trôi cây trồng, gây ra tổn thất toàn bộ.
Ở những vùng lạnh hơn, thường xuất hiện mùa xuân ấm hơn và đến sớm hơn, điều này có thể khiến cây nở hoa và mọc chồi mới sớm hơn bình thường. Nếu sau đó là một đợt rét đậm, sương giá thì có thể gây ra các tổn thất mang tính hệ thống trên toàn bộ khu vực hoặc quốc gia.
Ngay cả với công nghệ hiện tại, rất khó để có thể đưa ra những dự báo về thiên tai trong một mùa vụ kéo dài 4 tháng. “Phải kết hợp mọi thứ với cân bằng sinh học trong khoảng thời gian 4 tháng đó để tạo nên một mùa vụ thành công”.
Để cải thiện khả năng dự đoán và đánh giá rủi ro, các công ty bảo hiểm có thể mô phỏng nhiều kịch bản hơn và tự đặt ra nhiều câu hỏi ‘điều gì sẽ xảy ra nếu’ để kiểm tra và đánh giá tác động của các yếu tố thời tiết và khoa học nông nghiệp đến năng suất cây trồng. Sau đó, họ có thể lồng ghép hợp đồng bảo hiểm vào các kết quả của kịch bản đã mô phỏng đó để xem có thể tạo ra kết quả như thế nào.
Một cách tiếp cận khác là sử dụng phương pháp chuỗi thời gian như làm mịn theo cấp số nhân, xem xét các dữ liệu trong quá khứ về thời tiết và năng suất cây trồng để gán trọng số ngày càng lớn hơn cho các dữ liệu mới hơn và các quan sát gần đây hơn. Khi có dữ liệu mới hàng năm, các dữ liệu trong quá khứ cũ hơn dần dần ít có giá trị và cuối cùng bị loại bỏ.
Giải pháp tham số
Bảo hiểm tham số có thể là một công cụ hữu ích để giải quyết sự biến động nói trên, nhưng cần xem xét đến một số yếu tố khác.
“Nếu chúng ta lấy ví dụ về sương giá nêu trên, sẽ có sự khác biệt đáng chú ý về nhiệt độ giữa các khu vực ở độ cao khác nhau. Cụ thể, ở độ cao thấp hơn, nhiệt độ sẽ ấm hơn trong khi khí hậu ở độ cao cao hơn vốn mát hơn sẽ có khả năng chịu đựng sức nóng đầu mùa cao hơn. Các tham số đo được bởi các trạm thời tiết không thể cho thấy được sự khác biệt, do vậy, sẽ không phải là thước đo tốt cho điều kiện canh tác thực tế,” ông Deng cho biết.
Điều đó nói lên rằng, bảo hiểm tham số là một công cụ tốt để triển khai trên một khu vực đồng nhất, nhưng vẫn phải đối mặt với thách thức tương tự như bảo hiểm dựa trên cơ sở bồi thường thực tế – các tổn thất kinh tế lớn của người được bảo hiểm có thể làm suy yếu khả năng tồn tại về mặt tài chính của việc cung cấp dịch vụ đó.
Ngoài ra, sự bất cân xứng thông tin về đối tượng bảo hiểm (anti-selection) khi người nông dân hiểu rõ về đất đai và khí hậu xung quanh nhờ kinh nghiệm nhiều năm của mình cũng có thể tác động tiêu cực hơn nữa đến tỷ lệ bồi thường của công ty bảo hiểm/tái bảo hiểm.
Giải pháp chuyên biệt
Ngành bảo hiểm đã và đang ủng hộ bảo hiểm tham số như một cách tốt để giải quyết những khó khăn trong nông nghiệp, nhưng vẫn gặp phải những vấn đề về tính bền vững tài chính khi phải chi trả những khoản bồi thường lớn.
Theo ông Deng, đây là lúc các công ty bảo hiểm/tái bảo hiểm chuyên biệt có thể cung cấp giải pháp. Họ có thể làm việc với chính phủ thông qua mối quan hệ đối tác công tư (PPP) để giới thiệu các phương pháp canh tác tốt hơn nhằm giảm thiểu rủi ro trong nông nghiệp và đưa ra những vấn đề cần xem xét về mặt tính phí bảo hiểm điều chỉnh theo rủi ro.
“Ví dụ, có thể bổ sung cây che phủ đất vào việc luân canh cây trồng giữa các mùa vụ và cây thương mại, tạo ra lớp phủ xanh theo mùa với những lợi ích như cải thiện khả năng giữ ẩm của đất, chu trình tuần hoàn dinh dưỡng và ức chế cỏ dại. Vào mùa xuân, có thể trồng cây che phủ đất, bổ sung chất hữu cơ cho đất để giảm khả năng xảy ra những kết quả bất lợi như xói mòn đất và dòng chảy bề mặt”, ông cho biết.
Tuy nhiên, những hoạt động như thế này đòi hỏi sự tham gia hoặc đầu tư nhất định của nông dân. Theo truyền thống, sau khi nông dân thu hoạch những gì họ cần, họ ngay lập tức cày xới tung mọi thứ khác (hoặc chặt cây, đốt để lấy đất trồng trọt tạm thời ở một số nơi) rồi nghỉ ngơi cho đến khi bắt đầu gieo hạt cho mùa vụ tiếp theo.
“Với cây che phủ đất, nông dân cần ở lại trang trại, gieo cây che phủ đất và chăm sóc ở mức độ tối thiểu, và vào mùa xuân năm tới, trồng chúng xuống đất để chuẩn bị cho mùa vụ mới. Đối với họ, điều này làm tăng thêm chi phí và công sức,” ông cho biết.
Các sáng kiến do chính phủ tổ chức, lý tưởng nhất là được triển khai trong nhiều năm, cũng có thể mang lại những động lực nhất định để thuyết phục nông dân áp dụng các biện pháp canh tác bền vững hoặc thân thiện với môi trường hơn.
Cuối cùng, những điều này có thể được phản ánh qua sự khác biệt về phương pháp tính phí bảo hiểm – nếu rủi ro giảm. Theo đó, chủ hợp đồng bảo hiểm sẽ yêu cầu giảm mức phí bảo hiểm và công ty bảo hiểm sẽ phải đánh giá mức độ giảm rủi ro.
Tiếp cận với nông dân
Mặc dù các chương trình của chính phủ là một giải pháp tốt nhưng không phải quốc gia nào cũng có các chương trình đó, khiến nhiều nông dân sản xuất nhỏ gặp rủi ro.
“Các công ty bảo hiểm có khả năng cung cấp bằng chứng về ý tưởng sản phẩm và dịch vụ ở các quốc gia hiện không có bảo hiểm cây trồng rộng rãi và tổ chức các dự án thí điểm với các nhóm nhỏ. Ngày nay, có rất nhiều tổ chức phi chính phủ quan tâm đến những dự án như vậy mà họ có thể trình bày với chính phủ như một giải pháp lựa chọn để có thể phát triển và mở rộng quy mô,” ông Deng cho biết.
Các công ty bảo hiểm cũng sẽ phải tiến hành nghiên cứu khả thi để kiểm tra và đánh giá khả năng tồn tại. Hiệu quả của mô hình phân phối bảo hiểm truyền thống sẽ khác nhau rất nhiều giữa các quốc gia.
Ví dụ, ở Úc, một trang trại có diện tích trung bình từ 1.000 đến 2.000 ha – nếu nếu một công ty bảo hiểm ký kết được một hợp đồng bảo hiểm thì điều đó rất đáng giá vì một hợp đồng bảo hiểm tạo ra đủ nguồn phí bảo hiểm để bù đắp chi phí phân phối.
Tuy nhiên, ở các nước Đông Nam Á, diện tích đất trung bình khoảng 1 ha hoặc thậm chí ít hơn thế, do đó, một công ty bảo hiểm sẽ cần có khoảng 1.000 hợp đồng bảo hiểm để có đủ số phí bảo hiểm; và chi phí liên quan đến phân phối, đánh giá tổn thất, chi trả bồi thường khi nhân với 1.000 khiến mô hình này rất kém hiệu quả.
Mở rộng quy mô bằng công nghệ
Như thường lệ, một trong những giải pháp tốt nhất cho vô số vấn đề là công nghệ. Loại công nghệ phù hợp có thể là yếu tố hỗ trợ nâng cao hiệu quả và hiệu suất của công việc trong lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp và ngành bảo hiểm phải khai thác tối đa lợi ích của công nghệ trong chuỗi giá trị.
Ví dụ: có thể mở rộng các ứng dụng di động và điều này đặc biệt hữu ích để làm giảm chi phí phân phối khi phục vụ mạng lưới rộng lớn các trang trại nhỏ. Công nghệ cũng có thể nâng cao sự hài lòng và sự thuận tiện của người dùng bằng cách khắc phục các hạn chế về hậu cần liên quan đến các quy trình dựa trên giấy tờ truyền thống, chẳng hạn như ký kết hợp đồng bảo hiểm và thanh toán bồi thường.
“Việc sử dụng công nghệ và nguồn dữ liệu mới cũng có thể thu hẹp khoảng cách về kiến thức và nâng cao tính chính xác của đánh giá cũng như dự báo rủi ro bằng cách nhận ra sự khác biệt về vị trí cụ thể trong các yếu tố như độ cao và vị trí địa hình của trang trại” ông Deng cho biết./.
(Theo AIR 09/2023)